Chu kỳ tăng trưởng tín dụng mới của Việt Nam: Liệu cải cách chính sách có thể khơi dậy làn sóng tăng trưởng tiếp theo?
- Virtus Prosperity
- 4 ngày trước
- 7 phút đọc

Kể từ đầu năm 2026 đến nay, NHNN đã ban hành một loạt chính sách nhằm điều hành và thúc đẩy dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế. Mới đây nhất là Thông tư 25/2026/TT-NHNN và cơ chế đặc thù cho phép loại trừ dư nợ 18 dự án trọng điểm của VinGroup, Sun Group và Masterise ra khỏi room tín dụng của hệ thống. Sự nhanh chóng này là một tiền lệ chưa từng có nhằm tăng tốc thúc đẩy dòng vốn vào nền kinh tế.

Nguồn: Virtus Prosperity tổng hợp
Cụ thể, vào ngày 23/6, NHNN ban hành cơ chế tín dụng đặc biệt đối với 18 dự án trọng điểm của Vingroup, Sun Group và Masterise, với tổng nhu cầu vốn huy động hơn 752.000 tỷ đồng. Theo đó, dư nợ cho vay đối với các dự án này sẽ được loại trừ khi tính toán hạn mức tăng trưởng tín dụng (room tín dụng) của các ngân hàng tham gia tài trợ vốn.
Danh sách 18 dự án của VinGroup, Sun Group và Masterise được hưởng cơ chế đặc biệt.
(Đơn vị: tỷ VND)

Nguồn: Công văn 5386 NHNN về cấp tín dụng 3 doanh nghiệp Vingroup, Masterise và Sun Group.
Trước đó 1 ngày, NHNN cũng chính thức ban hành Thông tư 25/2026/TT-NHNN (có hiệu lực từ 1/7/2026) nhằm nới trần SMLR (tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn) ngược trở lại mức 40% sau một lộ trình siêt chặt dài từ 2020 và thay đổi cách tính chỉ số LDR nhằm “gia tăng” khả năng cho vay của một số NHTM, nội dung cụ thể bao gồm:
Nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn (SMLR) từ 30% lên 40%, đảo chiều so với lộ trình siết chặt mà Ngân hàng Nhà nước đã duy trì từ năm 2019 khi trần SMLR bị hạ dần từ 40% xuống còn 30% từ cuối 2023 và duy trì đến hiện tại.
Điều chỉnh cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR): Điều chỉnh phần “Tiền gửi của các tổ chức trong và ngoài nước” từ loại trừ 100% tiền gửi của KBNN thành loại trừ 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Điều này đồng nghĩa 20% phần tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được cộng vào mẫu LDR, giúp tỷ lệ LDR giảm cơ học.
Theo Chuyên gia Trần Trọng Đức, CEO Virtus Prosperity, quy định về trần tỷ lệ SMLR được NHNN đưa ra lần đầu vào năm 2009, trong giai đoạn 2009-2014, giá trị trần SMLR được giữ cố định 30%. Đến 2015, trần SMLR chính thức được nới lên mức 60% và siết dần từ giai đoạn 2015 đến hiện tại. Có thể nói, ngoài năm đầu tiên chính thức áp dụng tỷ lệ này, thì 2026 là lần đầu tiên mà SMLR chính thức được nới lỏng sau một thập kỷ thắt chặt.

Nguồn: Virtus Prosperity tổng hợp
Nhìn lại bối cảnh vĩ mô năm 2014, đây là giai đoạn Việt Nam bước vào thời kỳ phục hồi và mở đầu pha tăng trưởng 2014-2018 với tốc độ tăng trưởng tín dụng duy trì ~20%/năm. Việc áp dụng SMLR và nới lỏng định lượng sau 10 năm thắt chặt cho thấy quyết tâm của hệ thống điều hành trong việc sử dụng đa công cụ nhằm “bơm” tiền vào nền kinh tế.
Ông Đức cũng cho rằng, có một điểm đáng chú ý nữa trong Thông tư 25 chính là việc giao cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được tự quyết tỷ lệ loại trừ tiền gửi có kỳ hạn của NHNN. Tức là đang tạo ra cơ chế điều chỉnh dễ dàng hơn và tạo thêm dư địa để đưa ra các chính sách điều chỉnh cho phù hợp mục tiêu điều hành mà không tốn nhiều thời gian.
Hàng loạt các chính sách đồng bộ đang được thực thi nhằm khơi thông dòng vốn vào thị trường để thúc đẩy phát triển kinh tế.
Chuyên gia Trần Trọng Đức, CEO Virtus Prosperity nhấn mạnh: Thông tư 25 không phải là một công cụ mang tính giải toả cho hệ thống trong ngắn hạn, mà là một hành động thể hiện chiến lược trong dài hạn với bức tranh tăng trưởng lớn khi quyết tâm đã được thể hiện rõ. Ở phía đầu vào, Thông tư 25 nới rộng các quy định cho việc cho vay, nhằm kích thích vốn cho các chu kỳ đầu tư dài trong bối cảnh NHNN đã có động thái siết chặt dư nợ cho vay BĐS từ đầu năm 2026 khi tín dụng BĐS tăng nóng. Cụ thể, dư nợ cho vay BĐS tại mỗi ngân hàng không được tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung và tăng trưởng tín dụng 3 tháng đầu năm không vượt quá 3,7%.
Trong khi đó, ở phía đầu ra, hai chính sách lớn nhất bao gồm:
Cuối tháng 5, NHNN đã điều chỉnh hạn mức kiểm soát tín dụng bất động sản cho 25 ngân hàng thương mại, cho phép loại trừ phần dư nợ tăng thêm của các khoản vay phục vụ nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất khỏi giới hạn tăng trưởng tín dụng bất động sản trong năm 2026
Cuối tháng 6, NHNN ra cơ chế đặc thù cho phép phần dư nợ phát sinh từ 18 dự án của Vingroup, Sun Group và Masterise được loại trừ khi tính tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng tài trợ, tổng giá trị của 18 dự án đặc biệt ước đạt 750.000 tỷ đồng (tương đương 27% mức tín dụng mục tiêu 2026).
Nhìn chung, các chính sách đều được ban hành trong thời gian rất nhanh chóng và đều hướng tới một mục tiêu, đó chính là mở rộng tăng trưởng tín dụng cho hệ thống ngân hàng một cách có chọn lọc, sử dụng đa công cụ nhằm điều hướng dòng vốn tập trung vào các lĩnh vực tăng trưởng cốt lõi như hạ tầng, năng lượng và các dự án trọng điểm quốc gia.
Dư địa thêm một triệu tỷ đồng vốn trung hạn dự kiến chảy vào nền kinh tế.
Nếu so sánh tương quan với giai đoạn 2020-2021 khi tỷ lệ SMLR cũng ở mức ~40%, tỷ trọng dư nợ trung dài hạn trong nền kinh tế sẽ đạt mục tiêu ở mức ~49% so với ~46% vào cuối 2025. Với tốc độ tăng trưởng tín dụng 15% vào 2026, dư nợ trung và dài hạn tối đa có thể bơm thêm vào nền kinh tế nhờ điều chỉnh SMLR sẽ đạt xấp xỉ 1 triệu tỷ VNĐ.
Đó là ở chiều đầu vào, còn ở đầu ra, dư nợ tăng trưởng tín dụng mục tiêu đề ra năm 2026 là 2,7 triệu tỷ VNĐ, nếu tính cả dư nợ của 18 dự án đặc thù (~750 nghìn tỷ) thì tăng trưởng tín dụng thực tế ước đạt ~19%, tương đương với năm 2025.
Ngành ngân hàng là ngành được hưởng lợi đầu tiên.
Thông tư 25/2026/TT-NHNN và các chính sách/cơ chế trên được áp dụng sẽ tác động tích cực lên các NHTM, tuy nhiên mức độ tác động tuỳ thuộc vào cấu trúc huy động và cấu trúc cho vay của ngân hàng đó, cơ bản chia thành các nhóm như sau:
Nhóm ngân hàng Quốc doanh (VCB, BID, CTG)
Đây là nhóm hưởng lợi “kép” do tận dụng được cả hai sự thay đổi từ Thông tư mới. Họ vừa có thêm dư địa từ việc trần SMLR được nới lên 40%, vừa được cải thiện trực tiếp tỷ lệ dư nợ trên huy động (LDR) nhờ quy định cho phép loại trừ thêm 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.
Tỷ lệ SMLR của CTG và BID lần lượt đạt 25,7%; 25,6% tính đến cuối Q1/2026. Trong đó tỷ lệ cơ cấu nợ vay dài hạn của CTG và BID ~ 32%, VCB ~38%. Cơ cấu này cho thấy CTG và BID vẫn còn nhiều dư địa để tăng trưởng dư nợ dài hạn và chưa chịu nhiều áp lực từ giới hạn của các tỷ lệ trên. Tuy nhiên, việc nới trần vẫn tạo ra room rộng hơn cho cơ cấu nợ trung và dài hạn.
Tỷ lệ SMLR của các ngân hàng (tính đến Q1/2026)

Nguồn: Virtus Prosperity tổng hợp
Các Ngân hàng Quốc doanh vốn có lợi thế cho vay các dự án đầu tư công, dự án trọng điểm. Với động lực mạnh mẽ từ nhóm này, tăng trưởng tín dụng của nhóm NH Quốc doanh cũng sẽ được hưởng lợi tích cực nhất.
Nhóm ngân hàng thương mại có CASA cao (TCB, MBB)
Với các NHTM có tỷ trọng CASA cao, dư nợ cho vay trung dài hạn đã chạm giới hạn với MBB (29%) và TCB (26,9%). Việc nới rộng tỷ lệ SMLR tạo ra dư địa rất lớn cho MBB và TCB khi giúp giảm áp lực trong việc cạnh tranh huy động, qua đó làm giảm chi phí vốn.
Với TCB, dư nợ cho vay trung, dài hạn chiếm tới 65% tổng dư nợ và MBB (~50%) tổng dư nợ là hai ngân hàng được hưởng lợi trực tiếp nhiều nhất từ nghị định trên của NHNN.

Nguồn: Virtus Prosperity tổng hợp
Nhóm ngân hàng thương mại còn lại
Với các ngân hàng có cơ cấu cho vay bán lẻ thâm dụng vốn dài hạn cao như MSB, VPB, TPB. Việc nới trần tỷ lệ SMLR sẽ nới rộng ràng buộc lớn nhất của nhóm. Còn đối với các ngân hàng còn lại, chung quy sẽ giúp cho áp lực huy động giảm và cải thiện chi phí vốn.
Ông Đức cũng nhấn mạnh quan điểm về nhóm ngành Ngân hàng, cho rằng trong thời gian tới, sẽ xuất hiện sự phân hoá khi những cơ chế điều chỉnh trên đem lại lợi thế nhiều hơn cho nhóm NH Quốc doanh và nhóm NHTM tư nhân quy mô lớn, có lợi thế về huy động vốn và cho vay các dự án lớn, nhóm quy mô nhỏ sẽ không được hưởng lợi nhiều,
Tựu chung lại, đây là giai đoạn bắt đầu cho một chu kỳ tăng trưởng mới của nền kinh tế Việt Nam. Không chỉ các chính sách hiện tại đang được thi hành mà là sự nhanh chóng và đơn giản hơn trong phân cấp, phân quyền sẽ giúp cho những chính sách theo sau được điều chỉnh nhanh chóng và sát với nhu cầu của nền kinh tế, theo định hướng từ Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” (Kết luận số 18-KL/TW). Sự đồng bộ, nhanh chóng trong các cơ chế điều hành thể hiện sự quyết tâm của hệ thống chính trị trong việc thúc đẩy tăng trưởng nhanh, mạnh nhưng bền vững, giúp quốc gia thực sự bước vào kỷ nguyên vươn mình.
Bình luận