top of page

Khung Pháp Lý Mới Đối Với Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Trong Lĩnh Vực Thương Mại Điện Tử Tại Việt Nam

  • Ảnh của tác giả: Virtus Prosperity
    Virtus Prosperity
  • 4 ngày trước
  • 14 phút đọc

Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế số đang tạo ra nhiều cơ hội để nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam. Tuy nhiên, khác với hoạt động kinh doanh thông thường, một dự án TMĐT có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, thương mại điện tử, phân phối hàng hóa, thuế, bảo vệ người tiêu dùng, dữ liệu và an ninh mạng. Việc xác định đúng mô hình kinh doanh và cấu trúc đầu tư ngay từ đầu vì vậy có ý nghĩa quyết định đối với khả năng triển khai dự án và mức độ tuân thủ pháp luật.


Đặc biệt, từ ngày 01/7/2026, Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15Nghị định số 248/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật đã chính thức có hiệu lực, tạo ra một khung pháp lý mới, thống nhất hơn đối với các hoạt động kinh doanh trên môi trường số.


Xác định đúng mô hình kinh doanh là bước đầu tiên


Khái niệm “đầu tư vào thương mại điện tử” có thể bao hàm nhiều mô hình khác nhau. Nhà đầu tư có thể thành lập doanh nghiệp để trực tiếp bán hàng hóa trên website hoặc ứng dụng của mình; xây dựng và vận hành sàn TMĐT cho bên thứ ba; cung cấp nền tảng kết nối người mua và người bán; phát triển mạng xã hội có tích hợp chức năng TMĐT; hoặc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ như quảng cáo, tiếp thị liên kết, công nghệ và giải pháp số.


Sự khác biệt về mô hình dẫn đến sự khác biệt đáng kể về điều kiện tiếp cận thị trường, thủ tục đầu tư, giấy phép hoặc thủ tục chuyên ngành và trách nhiệm vận hành. Do đó, không nên xác định ngành nghề đầu tư chỉ dựa trên tên gọi “thương mại điện tử”, mà cần phân tích bản chất của từng hoạt động, chủ thể tham gia, nguồn doanh thu và cách thức nền tảng vận hành.


Đặc biệt cần phân biệt giữa trường hợp doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh hàng hóa trên môi trường điện tử và trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ TMĐT cho người bán hoặc người mua. Trong trường hợp thứ hai, các yêu cầu pháp lý đối với chủ quản nền tảng thường cao hơn do doanh nghiệp không chỉ thực hiện giao dịch của chính mình mà còn tham gia tổ chức, điều phối và quản lý hoạt động của các chủ thể khác trên nền tảng.


Điều kiện tiếp cận thị trường đối với Nhà đầu tư nước ngoài


TMĐT là lĩnh vực mà nhà đầu tư nước ngoài cần đặc biệt lưu ý về điều kiện tiếp cận thị trường. Theo khung pháp luật trước đây, hoạt động cung cấp dịch vụ TMĐT được xác định là ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài. Nghị định 85/2021/NĐ-CP, sửa đổi Nghị định 52/2013/NĐ-CP, đồng thời đặt ra các điều kiện riêng đối với trường hợp nhà đầu tư nước ngoài chi phối doanh nghiệp cung cấp dịch vụ TMĐT.


Về bản chất, khi xem xét một dự án FDI trong lĩnh vực này, cần xác định đồng thời hai vấn đề: Nhà đầu tư được phép tham gia thị trường theo hình thức nào? và việc đầu tư có làm phát sinh cơ chế kiểm soát đặc biệt hay không?


Theo cơ chế trước đây, nhà đầu tư nước ngoài đầu tư kinh doanh dịch vụ TMĐT tại Việt Nam phải thực hiện thông qua các hình thức đầu tư được pháp luật đầu tư cho phép, điển hình là thành lập tổ chức kinh tế hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp tại doanh nghiệp Việt Nam. Trường hợp nhà đầu tư chi phối doanh nghiệp thuộc nhóm 05 doanh nghiệp dẫn đầu thị trường dịch vụ TMĐT thì phải có ý kiến thẩm định về an ninh quốc gia của Bộ Công an.


Trường hợp cung cấp dịch vụ TMĐT xuyên biên giới (không đầu tư trực tiếp): Theo quy định tại Khoản 2 Điều 67a Nghị định 85/2021/NĐ-CP thì: “Thương nhân, tổ chức nước ngoài có website cung cấp dịch vụ TMĐT vào Việt Nam (tức cung cấp xuyên biên giới, không thành lập pháp nhân Việt Nam) phải: (i) Đăng ký hoạt động TMĐT với Bộ Công Thương; và (i) Thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam hoặc chỉ định tổ chức/cá nhân đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam”.


Từ ngày 01/7/2026, cơ chế quản lý hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới đã được thay đổi đáng kể khi Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP có hiệu lực, đồng thời Nghị định 52/2013/NĐ-CP và Nghị định 85/2021/NĐ-CP hết hiệu lực.


Theo quy định mới, nghĩa vụ của chủ thể nước ngoài không còn được xác định chung theo khái niệm “website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử tại Việt Nam” như cơ chế trước đây, mà được phân loại theo từng loại hình nền tảng, bao gồm nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp nước ngoài, nền tảng thương mại điện tử trung gian nước ngoài, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử nước ngoài và nền tảng thương mại điện tử tích hợp nước ngoài.


  • (i) Đối với nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến, chủ quản nền tảng phải đăng ký với Bộ Công Thương khi nền tảng cho phép lựa chọn ngôn ngữ tiếng Việt, sử dụng tên miền quốc gia “.vn” hoặc đạt từ 100.000 lượt giao dịch với người mua tại Việt Nam trong một năm theo quy định. Trong trường hợp đạt ngưỡng giao dịch, việc đăng ký phải được thực hiện trong thời hạn 60 ngày kể từ thời điểm đạt ngưỡng.


  • (ii) Đối với nền tảng thương mại điện tử trung gian nước ngoài, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử nước ngoài và nền tảng thương mại điện tử tích hợp nước ngoài, nghĩa vụ đăng ký phát sinh khi nền tảng cho phép lựa chọn ngôn ngữ tiếng Việt hoặc sử dụng tên miền quốc gia “.vn”. Tùy thuộc vào việc nền tảng có chức năng đặt hàng trực tuyến hay không, pháp luật áp dụng các yêu cầu khác nhau về đại diện tại Việt Nam, đề án hoạt động thương mại điện tử và cơ chế bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.


Đáng lưu ý, đối với nền tảng trung gian nước ngoài hoặc mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử nước ngoài không có chức năng đặt hàng trực tuyến, chủ quản nền tảng phải có đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam, có thể là cá nhân cư trú tại Việt Nam hoặc pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam.


Trong khi đó, đối với nền tảng trung gian có chức năng đặt hàng trực tuyến, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến và nền tảng thương mại điện tử tích hợp nước ngoài, chủ quản nền tảng phải đáp ứng các điều kiện chặt chẽ hơn, bao gồm việc chỉ định pháp nhân tại Việt Nam làm đại diện, người chịu trách nhiệm về hoạt động thương mại điện tử phải là cá nhân cư trú tại Việt Nam và thực hiện ký quỹ tối thiểu 20 tỷ đồng Việt Nam tại một ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Khoản ký quỹ phải được duy trì trong suốt thời gian nền tảng hoạt động tại Việt Nam và được sử dụng để bảo đảm một số nghĩa vụ đối với người tiêu dùng, cơ quan quản lý nhà nước và nghĩa vụ thuế theo quy định.


Bên cạnh pháp luật Việt Nam, đối với nhà đầu tư đến từ các quốc gia có điều ước quốc tế liên quan với Việt Nam, cần đồng thời rà soát các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường. Đây là bước cần thiết để xác định đầy đủ phạm vi quyền tiếp cận thị trường và các hạn chế mà nhà đầu tư có thể phải tuân thủ.


Cấu trúc đầu tư và thủ tục triển khai dự án


Sau khi xác định điều kiện tiếp cận thị trường, nhà đầu tư cần lựa chọn cấu trúc đầu tư phù hợp. Về nguyên tắc, có thể lựa chọn thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam hoặc đầu tư thông qua việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp tại doanh nghiệp hiện hữu, tùy thuộc vào cấu trúc giao dịch và điều kiện áp dụng.


Việc lựa chọn hình thức đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến trình tự thủ tục, tỷ lệ sở hữu, quyền kiểm soát, nghĩa vụ quản trị và khả năng triển khai hoạt động TMĐT sau đầu tư. Vì vậy, việc xin chấp thuận đầu tư hoặc thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp không nên được xem là bước độc lập mà cần được đặt trong tổng thể cấu trúc pháp lý của dự án.


Đối với dự án có hoạt động TMĐT thực chất, hồ sơ đầu tư cũng cần phản ánh đúng bản chất hoạt động dự kiến. Việc đăng ký một ngành nghề quá rộng hoặc không phản ánh đúng mô hình vận hành có thể dẫn đến khó khăn khi thực hiện các thủ tục chuyên ngành sau này.


Nghĩa vụ chuyên ngành phụ thuộc vào loại hình nền tảng


Một trong những đặc điểm quan trọng của pháp luật TMĐT là nghĩa vụ của doanh nghiệp phụ thuộc vào vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi giao dịch điện tử.


Doanh nghiệp sử dụng website hoặc ứng dụng để trực tiếp bán hàng cho người tiêu dùng sẽ có nhóm nghĩa vụ khác với doanh nghiệp vận hành sàn TMĐT. Trong khi đó, chủ quản nền tảng trung gian, mạng xã hội có chức năng TMĐT hoặc các nền tảng cung cấp dịch vụ số liên quan đến giao dịch lại có thể phải thực hiện thêm các nghĩa vụ về xác thực người bán, công khai thông tin, tiếp nhận và xử lý phản ánh, lưu trữ dữ liệu giao dịch và phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước.


Khung pháp luật mới có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 tiếp tục làm rõ trách nhiệm của các nền tảng, đặc biệt đối với việc xác thực danh tính người bán và quản lý thông tin liên quan đến giao dịch. Bộ Công Thương cũng xác định đây là một trong những điểm trọng tâm của Luật TMĐT mới, nhằm tăng khả năng truy vết, hỗ trợ quản lý thuế và bảo vệ người tiêu dùng.


Theo đó, nhà đầu tư cần xác định ngay từ giai đoạn thiết kế dự án rằng doanh nghiệp sẽ là người bán, chủ quản nền tảng, đơn vị cung cấp dịch vụ trung gian hay nhà cung cấp hạ tầng công nghệ. Đây là cơ sở để xác định chính xác nghĩa vụ pháp lý tương ứng.


Hoạt động xuyên biên giới cần được phân biệt với đầu tư tại Việt Nam



Một vấn đề cần tách bạch là trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam với trường hợp thương nhân, tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ TMĐT xuyên biên giới vào Việt Nam mà không thực hiện đầu tư tại Việt Nam.


Hai trường hợp này có bản chất pháp lý khác nhau và không nên áp dụng cùng một cơ chế. Đối với mô hình xuyên biên giới, pháp luật TMĐT có thể đặt ra các yêu cầu riêng đối với chủ thể nước ngoài khi website hoặc nền tảng của họ cung cấp dịch vụ cho thị trường Việt Nam. Trong khi đó, nếu nhà đầu tư thực hiện dự án FDI tại Việt Nam, trọng tâm trước hết là điều kiện tiếp cận thị trường và cấu trúc đầu tư, sau đó là các điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam thực hiện hoạt động TMĐT.


Luật TMĐT 2025 đã dành cơ chế riêng cho hoạt động TMĐT có yếu tố nước ngoài, qua đó cho thấy xu hướng quản lý ngày càng rõ hơn đối với các nền tảng và chủ thể nước ngoài hoạt động trực tiếp vào thị trường Việt Nam. Việc xác định doanh nghiệp có “hiện diện” tại Việt Nam hay cung cấp dịch vụ xuyên biên giới vì vậy có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nghĩa vụ tuân thủ.


Quyền kinh doanh hàng hóa không đồng nhất với quyền cung cấp dịch vụ TMĐT


Một dự án TMĐT có thể đồng thời liên quan đến hai lớp hoạt động: cung cấp dịch vụ TMĐT và mua bán hàng hóa. Nếu doanh nghiệp FDI chỉ vận hành nền tảng để kết nối người mua với người bán, vấn đề trọng tâm là điều kiện cung cấp dịch vụ TMĐT. Ngược lại, nếu doanh nghiệp trực tiếp nhập khẩu, mua và bán hàng hóa tại Việt Nam, cần đánh giá thêm quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu và quyền phân phối của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.


Do đó, việc được phép đầu tư vào lĩnh vực TMĐT không mặc nhiên đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được quyền kinh doanh mọi loại hàng hóa trên thị trường Việt Nam. Đối với từng nhóm sản phẩm, còn phải xem xét điều kiện kinh doanh chuyên ngành, điều kiện lưu thông, nhãn hàng hóa, chất lượng, quảng cáo, xuất xứ và các yêu cầu khác có liên quan. Đây cũng là lý do cần thiết phải tách mô hình nền tảng khỏi mô hình merchant ngay từ khi xây dựng cấu trúc pháp lý của dự án.


Thuế, thanh toán và dòng tiền cần được thiết kế song song với cấu trúc pháp lý


Một dự án TMĐT có thể tạo ra nhiều loại doanh thu khác nhau như doanh thu bán hàng, phí hoa hồng, phí nền tảng, phí quảng cáo, phí đăng tải sản phẩm, phí logistics hoặc phí dịch vụ công nghệ. Việc xác định đúng bản chất từng khoản doanh thu có ý nghĩa quan trọng đối với thuế và kế toán. Đặc biệt đối với mô hình sàn giao dịch, cần làm rõ doanh nghiệp là bên bán hàng thực tế hay chỉ cung cấp dịch vụ trung gian. Việc xác định này ảnh hưởng đến cách ghi nhận doanh thu, nghĩa vụ hóa đơn và thuế, cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp đối với giao dịch giữa người bán và người mua.


Nếu doanh nghiệp Việt Nam có quan hệ với công ty mẹ hoặc các công ty liên kết ở nước ngoài, cần tiếp tục rà soát các giao dịch liên kết như phí công nghệ, phí quản lý, phí marketing, phí bản quyền, dịch vụ hỗ trợ hoặc các khoản vay nội bộ. Trong bối cảnh TMĐT, đây thường là khu vực có rủi ro cao vì giá trị kinh tế có thể được tạo ra từ nền tảng công nghệ, dữ liệu, thương hiệu và tài sản trí tuệ nằm ngoài Việt Nam.


Ngoài ra, nếu nền tảng tham gia trực tiếp vào việc thu, giữ hoặc phân bổ tiền của người mua cho người bán, cần đánh giá riêng về pháp luật thanh toán và trung gian thanh toán. Không phải mọi cơ chế “thu hộ” hoặc “ví” trên nền tảng đều có thể được thực hiện như một chức năng TMĐT thông thường.


Dữ liệu, công nghệ và sở hữu trí tuệ trở thành một phần của cấu trúc đầu tư



Đối với doanh nghiệp TMĐT, giá trị của dự án thường không chỉ nằm ở vốn và hàng hóa mà còn nằm ở nền tảng công nghệ, phần mềm, thuật toán, cơ sở dữ liệu, thương hiệu và thông tin người dùng. Vì vậy, ngay từ giai đoạn đầu tư cần xác định rõ: chủ thể sở hữu nền tảng và phần mềm; quyền sử dụng thương hiệu và các tài sản trí tuệ; quyền khai thác dữ liệu; nơi lưu trữ và xử lý dữ liệu; việc chuyển dữ liệu ra nước ngoài; trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân; cơ chế bảo mật và an ninh mạng.


Khung pháp luật TMĐT mới cũng tăng cường trách nhiệm của nền tảng đối với dữ liệu, thông tin người bán và giao dịch. Bộ Công Thương xác định việc xác thực người bán, lưu giữ thông tin và phối hợp với cơ quan nhà nước là những nội dung quan trọng trong cơ chế quản lý mới.


Đối với nhà đầu tư nước ngoài sử dụng hệ thống công nghệ hoặc máy chủ đặt ngoài Việt Nam, việc thiết kế cấu trúc dữ liệu cần được thực hiện đồng thời với việc rà soát pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng, thay vì xử lý như một vấn đề kỹ thuật riêng biệt.


Từ ngày 01/7/2026: cần rà soát lại toàn bộ mô hình theo khung pháp luật mới


Một điểm đặc biệt quan trọng đối với các dự án đang được triển khai hoặc chuẩn bị đầu tư là khung pháp luật TMĐT đã thay đổi từ ngày 01/7/2026. Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026; cùng ngày, Nghị định 248/2026/NĐ-CP cũng có hiệu lực để quy định chi tiết một số nội dung của Luật.


Khung pháp luật mới tăng cường quản lý đối với nền tảng TMĐT, người bán, hoạt động livestream, tiếp thị liên kết, mạng xã hội có tích hợp chức năng TMĐT và hoạt động TMĐT xuyên biên giới. Đồng thời, trách nhiệm xác thực người bán, cung cấp thông tin, lưu trữ dữ liệu và phối hợp với cơ quan quản lý cũng được nhấn mạnh hơn.


Khung pháp luật mới đặc biệt nhấn mạnh đến khả năng truy xuất dữ liệu giao dịch. Đây là thay đổi có ý nghĩa lớn đối với các doanh nghiệp FDI sử dụng hệ thống công nghệ, máy chủ hoặc cơ sở dữ liệu được quản lý tập trung ở nước ngoài. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp FDI cần rà soát không chỉ vấn đề “dữ liệu được lưu ở đâu”, mà còn phải trả lời các câu hỏi về khả năng truy xuất, tính toàn vẹn, thời hạn lưu giữ (từ 01 – 03 năm), quyền truy cập và khả năng cung cấp dữ liệu khi cơ quan nhà nước yêu cầu.


Do đó, đối với dự án FDI đã được chuẩn bị trên cơ sở Nghị định 52/2013/NĐ-CP và Nghị định 85/2021/NĐ-CP, cần thực hiện một bước đánh giá khoảng trống pháp lý để xác định những nội dung cần điều chỉnh nhằm đáp ứng khung pháp luật mới.


Kết luận


Đối với nhà đầu tư nước ngoài, việc tham gia thị trường TMĐT Việt Nam không chỉ đặt ra câu hỏi “có được phép đầu tư hay không”, mà cần được xem xét theo một chuỗi vấn đề có liên hệ chặt chẽ: mô hình kinh doanh – điều kiện tiếp cận thị trường – cấu trúc đầu tư – ngành nghề kinh doanh – điều kiện chuyên ngành – quyền phân phối – thuế và dòng tiền – dữ liệu – công nghệ – sở hữu trí tuệ và nghĩa vụ vận hành nềtn tảng.


Có thể nói, rủi ro pháp lý lớn nhất không nằm ở một thủ tục riêng lẻ mà nằm ở việc cấu trúc đầu tư không phù hợp với bản chất hoạt động thực tế. Một doanh nghiệp có thể hoàn thành thủ tục đầu tư nhưng vẫn chưa đủ điều kiện để vận hành nền tảng, bán hàng, cung cấp dịch vụ trung gian hoặc xử lý dữ liệu theo đúng mô hình dự kiến.


Vì vậy, cách tiếp cận phù hợp đối với một dự án FDI trong lĩnh vực TMĐT là tiến hành rà soát pháp lý ngay từ giai đoạn thiết kế mô hình kinh doanh. Trên cơ sở đó, nhà đầu tư có thể xác định chính xác tỷ lệ sở hữu, quyền kiểm soát, ngành nghề đăng ký, giấy phép và thủ tục chuyên ngành, cơ chế doanh thu – thuế, cũng như trách nhiệm đối với người bán và người tiêu dùng.


Đặc biệt trong bối cảnh Luật Thương mại điện tử 2025 Nghị định 248/2026/NĐ-CP đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, việc cập nhật cấu trúc pháp lý theo quy định mới không chỉ là yêu cầu về tuân thủ mà còn là điều kiện quan trọng để bảo đảm khả năng vận hành ổn định và mở rộng hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài tại thị trường Việt Nam.


Bình luận


bottom of page